Chào mừng đến với Website Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu !!!                                 

 
 

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
7
4
1
5
4
7
Tài nguyên nước Thứ Ba, 18/03/2014, 11:15

Siết chặt quản lý tài nguyên nước

Câu chuyện nhiều tổ chức, cá nhân hành nghề khoan giếng nhưng không xin phép trong thời gian qua đã cho thấy việc quản lý tài nguyên nước tại Bắc Kạn cần phải được quan tâm hơn nữa. Bảo vệ nước ngầm lẫn nước mặt là điều cần thiết để giữ gìn tài nguyên không bị cạn kiệt.
Nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Thanh Bình (Chợ Mới)

Từ năm 2007, UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị về tăng cường quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh. Đến tháng 9/2012, UBND tỉnh ban hành quy định quản lý hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước thuộc phạm vi gia đình không phải xin phép trên địa bàn tỉnh. Tháng 10/2012, UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước tỉnh Bắc Kạn giai đoạn đến 2020 và tầm nhìn đến 2030. Sở Tài nguyên và Môi trường tích cực cùng các địa bàn tăng cường tuyên truyền văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Bộ, ngành về quản lý tài nguyên nước. Mới nhất là Luật Tài nguyên nước và Nghị định 201/2013/NĐ- CP hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Tài nguyên nước… Như vậy, có thể nói những quy phạm pháp luật đã được tỉnh hướng dẫn, ban hành cụ thể. Tuy nhiên, thực tế việc quản lý, sử dụng tài nguyên nước vẫn còn những bất cập.

 

Việc xả chất thải sinh hoạt, chất thải trong công nghiệp chế biến giấy đế và khoáng sản ra sông suối chưa được kiểm soát chặt chẽ trong khi ý thức của một số người dân, doanh nghiệp thì rất kém. Do đó, cả nước mặt lẫn nước ngầm đều bắt đầu bị ô nhiễm. Rất nhiều tổ chức, cá nhân hành nghề khoan giếng nhưng không xin phép, trái với quy định của pháp luật. Có 10 hành vi bị nghiêm cấm quy định tại điều 9 của Luật Tài nguyên nước thì tại Bắc Kạn không ít hành vi đã diễn ra như khai thác cát, sỏi trái phép trên sông; hành nghề khoan nước dưới đất trái phép; đổ rác thải, chất thải vào nguồn nước… Tại Văn bản số 373/UBND- CN ngày 20/2/2014, UBND tỉnh đánh giá, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật, chưa có tổ chức, cá nhân nào thực hiện việc lập hồ sơ xin cấp phép khai thác nguồn nước theo quy định. Đa số các tổ chức, cá nhân sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp mang tính tự phát, không được cấp phép dẫn đến hiện trạng hiện nay nguồn nước đang dần cạn kiệt và ô nhiễm.

 

Luật Tài nguyên nước và Nghị định 201/2013/NĐ- CP đã quy định chi tiết những trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không phải đăng ký, không phải xin phép. Tại Bắc Kạn, cơ bản các tổ chức, cá nhân đều thuộc diện đối tượng này. Tuy nhiên, chính vì khai thác, sử dụng nước mà không phải xin phép vô hình chung lại dẫn tới tâm lý “dùng” thoải mái, thiếu tiết kiệm và bảo vệ nước khỏi ô nhiễm. Theo thống kê của Chi cục Thủy lợi Bắc Kạn, toàn tỉnh hiện có 31 hồ chứa nước và gần 1.000 công trình thủy lợi nhỏ được giao cho Công ty TNHH Một thành viên Thủy nông Bắc Kạn và các địa phương quản lý, vận hành. Các công trình này đều thuộc diện không phải xin cấp phép khai thác sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp. Nhưng hầu hết các công trình thuỷ lợi sau khi bàn giao cho địa phương quản lý đã bộc lộ nhiều tồn tại như không có cán bộ chuyên môn để quản lý, vận hành công trình; việc quản lý công trình có lúc tuỳ tiện không theo quy trình nên công trình nhanh chóng bị xuống cấp. Bên cạnh đó, việc xâm hại các công trình thủy lợi vẫn diễn ra như đục khoét mương bê tông để lấy nước, phá hỏng mặt đập dâng… Đây là lý do dẫn tới việc sử dụng nước không tiết kiệm, thiếu hiệu quả.

 

Luật Tài nguyên nước dành hẳn chương V quy định phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra. Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác quản lý, bảo đảm an toàn hồ chứa. Hiện tại, cơ bản trong số 31 hồ chứa nước của Bắc Kạn đều đã được xây dựng từ lâu. Có những công trình từ những năm 1964. Các hồ chứa hiện vẫn bảo đảm an toàn nhưng về lâu dài cần được duy tu, sửa chữa. Nghị định 201 quy định khai thác, sử dụng nước mặt có xây dựng hồ, đập trên sông, suối phải đáp ứng các yêu cầu có phương án bố trí thiết bị, nhân lực để vận hành hồ chứa, quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước; phương án quan trắc khí tượng, thủy văn, tổ chức dự báo lượng nước đến hồ để phục vụ vận hành hồ chứa theo quy định đối với trường hợp chưa có công trình. Cùng với đó, phải có quy trình vận hành hồ chứa; có thiết bị, nhân lực hoặc có hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân có đủ năng lực để thực hiện việc vận hành hồ chứa, quan trắc, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước, quan trắc khí tượng, thủy văn và dự báo lượng nước đến hồ để phục vụ vận hành hồ chứa theo quy định đối với trường hợp đã có công trình. Đây là điều cần được quan tâm thực hiện đối với các hồ chứa tại Bắc Kạn trong thời gian tới.

 

Theo Phòng Khoáng sản - Nước - Khí tượng Thủy văn (Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Kạn), điều kiện cấp phép theo quy định hiện nay đã chặt chẽ hơn. Để được cấp giấy phép tài nguyên nước, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng được các điều kiện cơ bản. Cụ thể: Đã thực hiện việc thông báo, lấy ý kiến đại diện cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Nghị định 201. Đây là điểm mới mà trong Luật Tài nguyên nước 1998 chưa quy định. Bên cạnh đó, phải có đề án, báo cáo phù hợp với quy hoạch tài nguyên nước đã được phê duyệt hoặc phù hợp với khả năng nguồn nước, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước nếu chưa có quy hoạch tài nguyên nước. Đề án, báo cáo phải do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường lập; thông tin, số liệu sử dụng để lập đề án, báo cáo phải bảo đảm đầy đủ, rõ ràng, chính xác và trung thực. Trước đây, quy hoạch, kế hoạch, các dự án có liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không quy định có sự tham gia của cơ quan quản lý tài nguyên nước đã tạo ra lỗ hổng để tổ chức, cá nhân “trốn” việc xin cấp phép. Những vi phạm trong sử dụng tài nguyên nước trái với Luật Tài nguyên nước cần phải được xử lý nghiêm. Năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 142/2013/NĐ- CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Thẩm quyền xử phạt được quy định từ Chủ tịch xã trở lên. Do đó, cấp cơ sở phải vào cuộc quyết liệt hơn nữa thì mới góp phần siết chặt quản lý tài nguyên nước.

Theo Tuấn Sơn - (BTNMT)


Số lượt người xem: 1751 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày