Chào mừng đến với Website Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu !!!                                 

 
 

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

4
4
4
6
0
8
7
Tài nguyên Biển Thứ Sáu, 28/11/2014, 09:25

Làm rõ các quy định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tổng hợp TNMT biển và hải đảo

Toàn cảnh phiên họp

Chiều 27/11, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật TNMT biển và hải đảo. Đa số ý kiến đại biểu đồng tình với sự cấp thiết cần phải ban hành Luật TNMT biển và hải đảo. Đó là yêu cầu thực tiễn khách quan nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý tổng hợp thống nhất TN&MT biển và hải đảo.

Việc xây dựng Luật nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển một cách đầy đủ theo yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trên quan điểm đã được nhấn mạnh tại Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường…
Một số ý kiến cho rằng việc ban hành Luật TNMT biển và hải đảo nhằm khắc phục một số chồng chéo trong các văn bản về khai thác, sử dụng tài nguyên, làm cho tài nguyên biển dần bị suy thoái, ô nhiễm môi trường biển diễn biến phức tạp; nâng cao hiệu quả công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý quan trọng thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển…
* Cần làm rõ cơ sở thực tiễn của quy định vùng bờ
Thảo luận về quy định phạm vi vùng bờ (Điều 22), khoản 2 Điều 22 dự thảo Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quy định “Vùng biển ven bờ là vùng biển có chiều rộng 06 hải lý tính từ mực nước triều kiệt trung bình nhiều năm ra phía biển,” một số ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cần giải trình rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của quy định này, làm rõ sự khác nhau giữa “vùng bờ” với các vùng biển theo quy định của Luật Biển Việt Nam; cân nhắc quy định về phạm vi vùng bờ để bảo đảm tính khả thi việc tổ chức thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường vùng bờ và phù hợp với quy định của pháp luật về biên giới quốc gia.
Đại biểu Hoàng Thị Tố Nga (Nam Định) cho rằng cần quy định một cách khoa học và chắc chắn hơn. Số liệu tính toán là số liệu trung bình mức triều kiệt của nhiều năm trước đây nhưng trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng hiện nay, mức triều kiệt có thể thay đổi và ảnh hưởng tới việc xác định vùng bờ. 
Việc quy định xác định vùng ven bờ không chính xác có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi trên biển của quốc gia cũng như gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên môi trường biển. 
Đại biểu đề nghị ban soạn thảo giải thích rõ cơ sở của việc đưa ra khái niệm vùng ven bờ. Theo đại biểu, nên quy định các vùng biển để quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường theo quy định của các vùng biển trong Luật Biển Việt Nam .
Tán thành quan điểm trên, đại biểu Nguyễn Thị Quốc Khánh (Hà Nội) đề nghị ban soạn thảo giải trình nêu rõ hơn căn cứ khái niệm vùng biển ven bờ để bảo đảm vấn đề chủ quyền quốc gia, đồng thời đồng bộ với Luật Biển và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Về nguyên tắc, căn cứ để lập quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ, đại biểu Nguyễn Hoài Phương (Tây Ninh) đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung các nguyên tắc, căn cứ đảm bảo về an ninh quốc phòng trong việc lập quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ. Bởi trong dự thảo chưa thấy có nguyên tắc nào quy định ràng buộc việc khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ với bảo vệ biển, hải đảo (nguyên tắc mang tính quốc phòng) hoặc đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội (nguyên tắc mang tính an ninh); chưa thấy các căn cứ đảm bảo nội dung an ninh quốc phòng để lập ra quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ.
Đại biểu nêu rõ nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc phòng phải được ban soạn thảo nghiên cứu đưa vào Điều 5: Nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và Điều 9: Nguyên tắc và căn cứ lập chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo để khắc phục những sơ hở trong quá trình quản lý nhà nước, đặc biệt trong kêu gọi đầu tư, nhất là các nhà đầu tư có yếu tố nước ngoài...
* Làm rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước về tài nguyên môi trường biển và hải đảo
Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Bùi Thị An (Hà Nội) đặt câu hỏi: Tại sao với bờ biển dài hơn 3200 km cùng tài nguyên trên biển vô cùng phong phú và quý giá như khoáng sản, động thực vật biển mà chúng ta mới chỉ khai thác được một phần giá trị? Theo đại biểu, một trong những nguyên nhân là do thời gian qua chúng ta phân tán quản lý, sự phối hợp giữa các ngành chưa thực sự tốt, ngành nào cũng mới chỉ tận dụng triệt để việc khai thác biển, hải đảo cho nên gây chồng chéo, lãng phí. Đại biểu đề nghị Chính phủ phải thống nhất quản lý mà cụ thể là giao cho Bộ TN&MT quản lý về tài nguyên môi trường biển và hải đảo. Đại biểu cho rằng, tùy đặc thù từng vùng để có cách quản lý riêng, bởi lẽ tùy đặc thù từng vùng mà có sự khai thác khác nhau như có những vùng biển khai thác du lịch, có vùng khai thác vận tải biển, đánh bắt hải sản.
Để công tác quản lý và khai thác biển có hiệu quả, đại biểu kiến nghị, Chính phủ giao cho Bộ TN&MT xây dựng chương trình quốc gia để điều tra nghiên cứu, đánh giá tổng thể tài nguyên môi trường biển hải đảo, có sự tham gia của các Bộ, ngành liên quan. Tiến tới chúng ta xây dựng ngân hàng dữ liệu về tài nguyên môi trường biển và hải đảo cung cấp cho các ngành có nhu cầu. “Ngân hàng dữ liệu này sẽ được bổ sung thường xuyên và được quản lý chặt chẽ phục vụ cho nhiều ngành sử dụng nghiên cứu… nhằm khai thác tối đa tiềm năng của biển để trong tương lai nguồn tài nguyên này sẽ đóng góp 50-55% GDP cho đất nước” – đại biểu Bùi Thị An nói.
Về trách nhiệm quản lý Nhà nước về tài nguyên môi trường biển và hải đảo, đại biểu Trần Văn Minh cho rằng, Bộ cơ quan ngang bộ trong nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ TN&MT quản lý tổng hợp Nhà nước về tài nguyên môi trường  biển và hải đảo.
Đại biểu Hoàng Thị Tố Nga (Nam Định) đề nghị quy định rõ nguyên tắc phối hợp giữa Bộ TN&MT và các Bộ, ngành địa phương để đảm bảo việc quản lý thống nhất tránh chồng chéo, còn Bộ ngành, địa phương quản lý cụ thể thế nào do các luật chuyên ngành quy định.
 * Đề xuất nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh, cấp Bộ về tài nguyên môi trường biển và hải đảo
Đại biểu Trần Văn Minh (Quảng Ninh) cho rằng cần tiếp tục rà soát đối chiếu với các luật chuyên ngành để đảm bảo tính chặt chẽ thống nhất như kiến nghị trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường.
Về hoạt động nghiên cứu khoa học tài nguyên môi trường biển và hải đảo, theo đại biểu Minh trong dự thảo mặc nhiên quy định thuộc chương trình khoa học trọng điểm cấp quốc gia. Tuy nhiên, nhiều địa phương ven biển đã chủ động triển khai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học về tài nguyên môi trường biển và hải đảo thuộc địa phương quản lý để phục vụ cho việc phát triển bền vững ở địa phương mình.
Chính vì thế, đại biểu Huỳnh Minh Hoàng (Bạc Liêu) đề nghị bổ sung trong dự thảo luật nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp tỉnh, cấp bộ về tài nguyên môi trường biển và hải đảo.
Về cấp độ do ô nhiễm môi trường biển được quy định tại điều 40, Khoản 2 quy định vùng rủi ro ô nhiễm môi trường được quy định thành 4 cấp là thấp trung bình, cao và rất cao. Tuy nhiên theo đại biểu Trần Văn Minh hiện mới chỉ đặt tên chứ không quy định cụ thể, đồng thời cũng chưa quy định trách nhiệm cụ thể cơ quan nào thực hiện. Như vậy, sẽ không khả thi khi lập bản đồ vùng rủi ro ô nhiễm để có cơ sở cho việc tổ chức thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, hải đảo, ứng phó khắc phục  sự cố môi trường biển.
Tương tự, về phân cấp ứng phó sự cố tràn dầu trên biển (Điều 44), dự thảo Luật quy định thành 3 cấp cơ sở, khu vực và quốc gia. Tuy nhiên, các quy định này chung chung thiếu tiêu chí phân cấp cụ thể, không giao cơ quan có trách nhiệm thực hiện. Nếu vậy, khi sự cố xảy ra sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý kịp thời do thiếu cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp.
Về nhận chìm biển (Điều 52), theo đại biểu Trần Văn Minh, đây là nội dung quan trọng cần được luật hóa để bảo vệ môi trường biển. Thực tế trên biển hiện nay hiện có nhiều hoạt chất phức tạp và khó kiểm soát. Dẫn giải trường hợp cụ thể ở biển Quảng Ninh, đại biểu phân tích, nếu không quy định trách nhiệm cụ thể và cơ sở pháp lý đủ mạnh thì việc quản lý nhận chìm ở biển khó khăn hơn nhiều. Do đó, theo đại biểu cần quy định hoạt chất được phép nhận chìm ở biển hay các tiêu chí cơ bản hoạt chất được nhận chìm.
Theo Thúy Hằng – (monre.gov.vn)

Số lượt người xem: 1993 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày